Tiêu chuẩn Việt Nam nhìn từ gốc độ của chuyên gia cơ sở

Viết ngày bởi admin

Cho đến nay, ở Việt Nam đã hình thành hệ thống Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và tiêu chuẩn cơ sở (TCCS) đang đi vào ổn định với sự khuyến khích nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ như hướng dẫn của Nghị định 127/2007 của Chính phủ.

Ở các nước lớn như Nga có SHIP luôn luôn đổi mới theo sự tiến bộ của kỹ thuật và công nghệ, song nhận định về hướng đi của nó cũng cần bàn đến, Anh Quốc có BS gần với thực tế hơn, Hoa Kỳ có ASTM khá hoàn hảo về khuynh hướng thực nghiệm, khu vực Châu Âu có Eurocode 1 đến 8 khá rành rọt trong phân loại, đó là những quốc gia có truyền thống sản xuất tiêu chuẩn qui phạm (TCQP) trong phạm vi quốc tế.

Trong những nước đó thường có các Viện Nghiên cứu thực nghiệm với qui mô lớn như của Nga chuyên về kết cấu xây dựng với kích thước lớn hoặc ở Cộng hòa Pháp, ngoài Trung tâm mô phỏng ở NANTES có hàng loạt các cơ sở nghiên cứu thực nghiệm khu vực. Ở đó, yếu tố gây mỏi tác động vào độ bền theo thời gian được tự động hóa đo đạc, quan trắc chùng ứng suất của cáp ứng lực trước, xác định trường ứng suất và quang cảnh biến dạng qua hệ đường lực trong kết cấu mô phỏng dưới tác dụng của các phổ tải hoặc xác định vai trò của lực dính tạo nên cường độ và gây lão hóa trong bê tông do sự suy thoái của lực dính đó.

Qua thực tế cho thấy, khi một thương hiệu TCQP của một nước nào được Việt Nam thừa nhận thì đó không những là vinh dự mà còn là thuận lợi của thương hiệu đó trong công tác đầu tư.

Ở Việt Nam có Viện Khoa học và Công nghệ Xây dựng của Bộ Xây dựng, là một cơ sở lâu năm có truyền thống tốt, có đội ngũ chuyên gia chuyên sâu và một vài cơ sở khác ở các địa phương. Song, chừng ấy năng lực cũng chưa đủ để tự mình lập nên một hệ TCQP có độ tin cậy thích hợp với thực tiễn đòi hỏi về đẳng cấp công nghệ.

Phương pháp mô phỏng có ưu việt tạo ra trạng thái ứng suất và biến dạng gần với thực nhờ kích thước mô hình đủ lớn, chế độ tác dụng của tải cũng rất gần với thực dưới dạng phổ, thiết bị đo mang tính hệ thống và hiện đại nên tránh được những nhược điểm của thời kỳ suy diễn từ mẫu nhỏ tiêu chuẩn không phản ánh được tính biến động (Variation) trong lòng công trình.

Do đó, giai đoạn mô phỏng đã tạo ra độ tin cậy cần thiết làm căn cứ cho việc thiết lập hệ thống TCQP có chất lượng cao. Ở ta, khoa học thực nghiệm xây dựng mô phỏng chưa được gầy dựng, đây là tiền đề của việc thiết lập TCQP cần phải có mà chắc còn lâu nữa mới có.

Vì điều kiện sản xuất TCQP khá công phu và chuẩn mực như vậy nên sự đầu tư cho hệ thống phục vui của lĩnh vực này phải tương xứng mà ở đất nước ta chưa đủ điều kiện tổ chức. Do đó, sự lựa chọn tất yếu là con đường dịch thuật bất đắc dĩ và hầu như không được trắc nghiệm đầy đủ.

Giải pháp đó đã tạo ra sự bị động đáng kể theo cách đuổi bắt mặc dù các cơ quan chức năng của ta đã hết sức cố gắng và luôn chú ý đến sự cải tiến theo thực tiễn. Nhờ đó, TCQP của ta tuy có những nhược điểm như vậy cũng đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển của ngành mấy mươi năm qua.

Những năm 1970 – 1971, Chính phủ dưới thời kỳ của Bộ trưởng Đỗ Mười đã giao cho trường Đại học Xây dựng Hà Nội phối hợp cùng Bộ Xây dựng chuyển đổi hệ thống SHIP đồ sộ của Liên Xô sang TCQP Việt Nam. Đó là chủ trương đúng đắn của Chính phủ về việc phải dựa vào điểm tựa vững chắc là TCQP của Liên Xô lúc bấy giờ. Song, do khối lượng quá lớn nên chỉ thực hiện được một phần. Hơn nữa, cứ sau 5 – 7 năm SHIP lại thay đổi do khoa học – công nghệ luôn phát triển nên chúng ta không bắt kịp. Đó cũng là nguyên tắc để TCQP không lạc hậu với khoa học công nghệ.

Ví dụ, đối với Tiêu chuẩn kết cấu bê tông cốt thép, sau Qui phạm 123 – 55 của Liên Xô, ta có Tiêu chuẩn 1961 đầu tiên, sau SHIP – 62 và 62* (1968) ta có Tiêu chuẩn 1971. Sau SHIP 84 và 84* (1989), ta không đuổi kịp nữa, đồng thời qui phạm này đã chuyển hướng khá phức tạp nên mãi đến 16 năm sau ta mới có bản dịch mang tên TCXDVN 356 : 2005 đầy gai gốc mà ngày nay lại miễn cưỡng mang tên TCVN 5574 : 2012. Sở dĩ gọi sự thay đổi mã hiệu này là gượng ép vì TCXDVN 356 : 2005 và TCVN 5574 : 1991 là hai tiêu chuẩn khác nhau xem xét chất lượng bê tông ra đời ở hai thời điểm khác nhau theo hai khuynh hướng khác biệt nhau. Mặc dù chưa thật hoàn hảo, có phần gây khó cho người sử dụng, song theo tác giả bài viết này, TCVN 5574 : 1991 là một tiêu chuẩn tốt hơn cả so với những gì hiện hữu. Tổng Công ty Xây dựng số 1 (Bộ Xây dựng) đã sử dụng phương pháp này của Liên Xô để kiểm tra chất lượng công trình thủy điện Trị An trước đây khá nghiêm túc mà ngày này không thấy công ty kiểm định nào thực hiện. Vì vậy, TCVN 5574 : 2012 thay cho TCXDVN 356 : 2005 tạo nên sự hiểu biết bất ổn, không tương thích. Sự chênh lệch lớn về thời gian đã bộc lộ sự tụt hậu về khoa học công nghệ chưa kể nó lại ở vào giai đoạn lịch sử mới từ Liên Xô sang Cộng hòa Liên bang Nga.

Ngoài phương thức dịch thuật đuổi bắt làm giảm tính chủ động và mất đi tính hệ thống có sàng lọc ta còn gặp phải sự đối mặt với tính nhất quán của hệ thống và sự trùng lặp thiếu logic, có khi lại khập khiểng, rắm rối.

Với tư cách là những người thụ hưởng chất lượng của TCQP, các chuyên gia ở TP.HCM từ lâu đã nhận ra điều này nhất là về phương diện khảo sát khả năng chịu lực của nền cọc và công tác đánh giá chất lượng của bê tông lẫn lộn với tính đồng nhất (trong TCXDVN 358 : 2005 nay là TCVN 9396 : 2012). Đáng lẽ, nhân dịp này nên hủy bỏ hẳn TCXDVN 358 : 2005 và biên soạn lại TCVN 9396 : 2012.

Qua nhiều năm, hệ thống TCQP của ta phần lớn dựa vào SHIP. Cho đến khi cơ chế thị trường phát triển, Bộ Xây dựng đã giao cho TS. Nguyễn Trung Hòa nay là Vụ trưởng Khoa học Công nghệ và Môi trường Bộ Xây dựng biên soạn và đã ấn hành thành công BS 8110 và ACI 318. Từ đó đã tạo ra sự thuận lợi cho các đối tác nước ngoài vào đầu tư ở Việt Nam, đồng thời đã tạo ra mặt bằng phong phú để so sánh trong quá trình sử dụng.

TCVN đã lựa chọn trong các nguồn TCQP khác nhau để xây dựng nên một hệ thống của chính mình.

Vài ví dụ tiêu biểu: TCXDVN 356 dựa vào SHIP 89 của Nga, TCXDVN 375 dịch từ Eurocode 8 của Châu Âu, TCXDVN 189, 190 lấy từ cọc có tiết diện nhỏ của Pháp, TCXDVN 269, ở phụ lục EE1 lấy số liệu từ nhiều nước ở phụ lục EE2 chuyển dịch từ Hoa Kỳ …

Với thực trạng đó, đòi hỏi các chuyên gia cơ sở phải có năng lực vận dụng để tạo nên sự nhất quán trong lời giải của mình. Chưa kể có khi phải tham thảo cả BS 8110 và ACI 318.

Tuy nhiên, không phải lúc nào ở cơ sở cũng đạt được kết quả mong muốn. Ví dụ, để tìm được Pgh – khả năng chịu lực của nền cọc theo phụ lục EE2 của TCXDVN 269, cho đến nay, sau hơn 10 năm, ngoài nhóm Công ty SL, không có đơn vị nào giải mã được. Điều thú vị đáng ghi nhớ là TCCS 01: 2011/SL, nhờ nghiên cứu khoa học nhiều năm đã biết kết nối hai trạng thái giới hạn của Viện sĩ Streleski với hai mô hình từ biến phá hoại và từ biến ổn định mà GS.TS Nguyễn Văn Đạt đã chuyển hóa từ nguyên lý của Aruchiunhan (Azerbaizan) hay nói cách khác, TCCS nói trên đã dùng hai nguyên lý của thời Xô Viết để giải bài toán của Hoa Kỳ mà Việt Nam đã chuyển dịch từ lâu vào phụ lục EE2 của TCXDVN 269.

Tuy nhiên, cho đến khi có Luật số 68/QH 2006 và Nghị định số 127/2007 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu Chuẩn và Qui chuẩn Kỹ thuật, trong đó cho phép các doanh nghiệp được tự do lựa chọn trong những TCXD, tiêu chuẩn nước ngoài và lập TCCS thông qua công tác nghiên cứu khoa học được khuyến khích ở cơ sở. Qua đó, tạo điều kiện để bổ khuyết những thiếu sót và nhược điểm của TCQP hiện hành nói trên.

Phải nói rằng, đây là một chủ trương rất sáng suốt và rất đúng đắn mà Chính phủ, Bộ Xây dựng và Bộ Khoa học và Công nghệ đã sớm đề xuất để cứu vãn tình trạng TCQP vừa qua. Đây là một dấu ấn đậm nét có tác dụng xóa bỏ những tập quán thiếu linh hoạt khi bắt buộc phải sử dụng một tiêu chuẩn nào đó mà mở rộng mặt bằng tham khảo phong phú. Sự tự do lựa chọn TCQP để sử dụng đồng nghĩa phải chịu trách nhiệm trước xã hội về sự lựa chọn đó. So với Hà Nội, ở TP. HCM chưa có nhiều TCCS, song cũng bắt đầu đã có nhận thức tốt về chủ trương này. Họ hiểu rằng, các TCCS mang tính độc đáo đáng được xem xét. Thực tế cho thấy, chỉ khi nào công tác nghiên cứu khoa học được hoàn hảo hoặc sản phẩm công nghiệp được hoàn thiện thì TCCS mới hình thành từng bước theo hướng dẫn. Sự khuyến khích của chủ trương lập các TCCS chính là làm thay đổi hàm lượng tri thức để nâng cao chất lượng công trình xây dựng mà ta luôn kì vọng. Ngoài ra, nên học tập SHIP, bên cạnh các TCQP cần có tài liệu hướng dẫn và bản thuyết minh để việc sử dụng được dễ dàng hơn.

Tóm lại, để có bộ TCQP có đẳng cấp cần sớm đưa hệ thống phục vụ vào giai đoạn mô phỏng, đồng thời củng cố kiến thức kinh điển thuộc khoa học thực nghiệm để làm vững chắc nền tảng khoa học công nghệ của ngành xây dựng.

Qua bài viết ngắn ngủi này hy vọng các chuyên gia cơ sở dễ đồng thuận về tầm quan trọng của TCQP. Do hoàn cảnh khó khăn của đất nước, tập thể các chuyên gia của Bộ Xây dựng đã có nhiều cố gắng để hạn chế những nhược điểm do phương thức dịch thuật đưa lại đã kéo dài mấy mươi năm qua và đã trở thành tập quán. Chúng ta càng nhận thức rõ sự sáng suốt của Luật số 68/QH 2006 và Nghị định số 127/2007 của Thủ tướng Chính phủ đã ra đời đúng lúc để cải thiện tình hình TCVN như đã nêu ở trên. Hy vọng, ở giai đoạn hiện nay tạm thời ổn định với hệ thống TCVN và TCCS sẽ là bước chuẩn bị tốt hơn để phát triển và sớm hoàn thiện đúng nghĩa với hệ TIÊU CHUẨN VIỆT NAM có hàm lượng tri thức cao, có đẳng cấp chất lượng tốt được xã hội tin cậy nhiều hơn.

 

GS.TS Nguyễn Văn Đạt

Chuyên gia cấp cao Hội KHKT XD TP.HCM

 

Lướt web kiếm tiền với Mybrowsercash

Chi tiết xem: Hướng dẫn

Gửi phản hồi